Thùng chứa dầu dùng để lưu
trữ và cung cấp dầu thủy lực (chính là chất lỏng làm việc) cho hệ thống thủy
lực. Ngoài ra thùng chứa còn có nhiệm vụ trao đổi nhiệt giữa dầu thủy lực với
môi trường xung quanh. Tại thùng chứa cũng là nơi tiến hành lọc cặn, bụi
bẩn và không khí có trong dầu thủy lực.
Hình.1. Thùng
chứa dầu
1 – dụng cụ chỉ mức dầu; 2– ống hút;
3 – nắp thùng; 4 – ống thông gió;
5 – cửa; 6 – ống xả (dầu từ hệ thống về ); 7 – bộ lọc;
8 – bộ lọc
dạng lưới (mắt lưới 0,1x0,1
mm); 9 – cửa rót dầu; 10 – nắp từ;
11 – nắp
cửa xả dầu; 12 – các tấm ngăn (làm lắng dầu)
Thùng chứa được chế tạo
bằng cách hàn các tấm thép lá độ dày từ 1-2
mm hoặc được đúc bằng gang. Hình dạng phổ biến của thùng chứa thường
là hình hộp chữ nhật. Bên trong thùng
chứa có có các vách ngăn 12, để ngăn khoang hút và khoang xả. Ngoài ra, vách
ngăn còn làm cho quãng đường tuần hoàn của dầu thủy lực dài hơn. Từ đó làm cho dầu thủy lực giảm bọt và làm lắng các cặn, tạp
chất chứa trong dầu thủy lực xuống dưới đáy thùng chứa. Để tách không khí ra dầu
thủy lực người ta sử dụng các lưới mắt nhỏ, đặt dưới góc của thùng chứa. Để làm
phẳng lặng chất lỏng trong thùng chứa trên vách ngăn 12 có các lỗ thủng ở độ
cao từ 50…10 mm từ đáy thùng. Rót chất lỏng làm việc vào thùng chứa qua cửa rót
9 với bộ lọc dạng lưới 8, có các mắt lưới không lớn hơn 0,1x0,1 mm. Cửa rót dầu được
đậy kín bằng nắp.
Sử dụng dụng cụ chỉ 1 hoặc
cửa 5 để kiểm tra mức chất lỏng trong thùng chứa. Ống thông gió 4 có tác
dụng để cân bằng áp suất tại mặt thoáng
chất lỏng trong thùng với áp suất khí quyển. Trong trường hợp cần áp suất trong
thùng chứa khác áp suất khí quyển (áp suất dư hoặc chân không) thùng chứa được
đóng kín không thông với không khí.
Các ống hút và ống xả được
lắp đặt ở độ cao h = (2…3)d
từ đáy của thùng chứa, đầu các ống này được làm vát 1 góc 45o. Khi đó lắp đặt miệng nghiêng của ống xả hướng
về thành thùng chứa, còn miệng nghiêng của ống hút quay lưng về hướng thành
thùng chứa. Với cách bố trí như vậy sẽ làm giảm sự trộn lẫn không khí vào chất
lỏng và giảm sự khuấy cặn, tạp chất dưới đáy thùng chứa lên, đảm bảo giảm tạp
chất bị hút vào ống hút, đảm bảo cho hệ thống làm việc. Phía trên phần ống xả
có thể được lắp đặt bộ lọc dầu.
Đáy thùng chứa dầu có cửa xả 11 để xả dầu thủy
lực ra, dùng cho trường hợp thay định kỳ dầu thủy lực và cọ rửa thùng chứa định
kỳ.
Tại đáy thùng chứa có thể lắp đặt nắp từ 10, có công dụng hút và
giữ các cặn, tạp chất kim loại. Nắp thùng chứa 3 có thể tháo được và được liên
kết với thùng chứa bằng vòng bít kín bằng cao su có độ bền cao đối với dầu thủy
lực.
Trong quá trình vận hành hệ thống thủy lực nhiệt độ dầu thủy lực
không được phép vượt quá 55…60o C, hay quá 80o C trong
trường hợp đặc biệt. Nếu không thể giữ nhiệt độ trong khoảng cho phép bằng các
cách làm mát tự nhiên, thì trong hệ thống thủy lực cần phải lắp bộ tản nhiệt.
Trong hệ thống thủy
lực sử dụng 2 kiểu tản nhiệt: làm mát bằng không khí và làm mát bằng nước.
Bộ tản nhiệt bằng nước có kích thước không lớn. Khác với tản nhiệt bằng không khí, tản nhiệt bằng nước hiệu quả hơn
nhiều, nhưng nó lại đòi hỏi cần có các thiết bị để dẫn, luôn chuyển chất lỏng
làm mát. Cấu trúc của bộ tản nhiệt dạng này có hình xoắn từ các ống thép (hình 2.a),
và được gắn vào thùng chứa 1.
Các bộ tản nhiệt bằng nước thích hợp ứng dụng
vào các hệ thống thủy lực của các máy cố định làm việc trong điều kiện nặng.
Hình.2. Bộ tản nhiệt:
а – tản
nhiệt bằng nước; 1 – thùng chứa dầu; 2 – bộ ống xoắn;
b –
tản nhiệt bằng không khí; 1 – tản nhiệt; 2 – quạt; 3 – bộ khởi động từ;
4 – rơle; 5 –máy
điều chỉnh nhiệt độ; 6 – đầu cảm ứng nhiệt
Bộ tản nhiệt bằng không khí được thiết kế theo kiểu tản nhiệt trên ôtô
hoặc sử dụng các đường ống dẫn dầu gấp song song để tăng tiết diện bề mặt
truyền nhiệt. Kết hợp với quạt gió để tăng hiệu quả truyền nhiệt bề mặt của bộ
tản nhiệt với không khí.
Để
giữ nhiệt độ dầu thủy lực không đổi có thể sử dụng máy điều chỉnh nhiệt độ tự
động ( hình 2.b). Khi nhiệt độ dầu thủy lực nâng lên cao, rơ-le 4 của máy điều
chỉnh nhiệt độ 5 đóng kín mạch của bộ
khởi động từ 3 của động cơ điện, trên trục động cơ điện được lắp đặt quạt gió
2. Dòng không khí thổi vào bộ tản nhiệt 1. Khi nhiệt độ giảm xuống mức cho
phép, động cơ điện của quạt gió tự động ngắt. Máy điều chỉnh nhiệt làm việc nhờ
đầu cảm ứng nhiệt 6.Điểm 5/5 dựa vào 49 đánh giá
- Đề nghị gõ tiếng Việt có dấu.
- Không nói tục, chửi bậy. Không spam, quảng cáo.
- Chỉ bàn luận tập trung vào vấn đề của bài viết.
< Các nhận xét không đúng yêu cầu sẽ bị xóa >
EmoticonEmoticon